Đề án “Tuyên truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ Phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề Xã hội liên quan đến Phụ nữ giai đoạn 2017-2027” (08:09 24/09/2018)

 

HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ HÀ NỘI

    BAN THƯỜNG VỤ

 

         Số:  02/ĐA – BTV

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

      Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

      

 Hà Nội, ngày 16  tháng 11  năm 2017

ĐỀ ÁN

“TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC, VẬN ĐỘNG, HỖ TRỢ PHỤ NỮ THAM GIA GIẢI QUYẾT MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN PHỤ NỮ

GIAI ĐOẠN 2017 – 2027”

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thực hiện Nghị quyết 15 của Quốc hội (khóa XII) về điều chỉnh địa giới hành chính Thủ đô, từ tháng 8/2008, địa bàn thành phố được mở rộng, số lượng phụ nữ đông và đa dạng về thành phần. Thủ đô Hà Nội có 3,8345 triệu người là nữ, chiếm tỷ lệ  50,79 % dân số của thành phố[1]. Phát huy truyền thống đoàn kết, sáng tạo, đảm đang, phụ nữ Hà Nội luôn nỗ lực phấn đấu vươn lên trong học tập, lao động, công tác, rèn luyện phẩm chất đạo đức, khẳng định trí tuệ, đóng góp quan trọng  trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của Thủ đô; xây dựng nếp sống, lối sống người Hà Nội thanh lịch-văn minh; xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc. Tuy nhiên, tình hình phụ nữ và công tác phụ nữ còn gặp những khó khăn, hạn chế. Có không ít phụ nữ còn thiếu kiến thức, kỹ năng; chạy theo lối sống thực dụng; đời sống vật chất và tinh thần còn thấp nhất là phụ nữ khu vực ngoại thành, vùng xa trung tâm thành phố. Cùng với sự phát triển của Thủ đô, tỷ lệ lao động nhập cư ngày càng đông trong đó có phụ nữ. Tình trạng bạo lực, buôn bán phụ nữ và xâm hại trẻ em, các tệ nạn xã hội, các vụ án hình sự, dân sự liên quan đến phụ nữ còn diễn biến phức tạp.

 

Kết quả 5 năm triển khai thực hiện, các đề án “Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, đề án “Giáo dục 5 triệu bà mẹ nuôi dạy con tốt”, tiểu đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho phụ nữ nông dân và phụ nữ dân tộc thiểu số”; Đề án “Tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật cho phụ nữ trên địa bàn Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2012 – 2016”, việc triển khai các đề án, chương trình của thành phố đã có những kết quả rõ rệt, đạt và vượt các chỉ tiêu đặt ra, bước đầu có những tác động tích cực đến các đối tượng phụ nữ. Tuy nhiên, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế xuất hiện nhiều thách thức mới, nhiều vấn đề xã hội mới liên quan đến phụ nữ, như: tình trạng bạo lực giới/bạo lực gia đình đối với phụ nữ; mất cân bằng giới tính khi sinh; tình trạng xâm hại trẻ em và việc thiếu kiến thức, kỹ năng trong giáo dục con cái của các bậc cha mẹ trong gia đình; tình trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm; sự suy thoái đạo đức, lối sống trong một số người dân; ý thức chấp hành pháp luật còn hạn chế cũng như một số vấn đề xã hội khác. Các vấn đề xã hội này đã và đang tạo ra nhiều hệ lụy và tác động tiêu cực đến đời sống của từng cá nhân người phụ nữ, gia đình và xã hội. Việc không giải quyết thấu đáo các vấn đề này sẽ dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng như vi phạm quyền con người, danh dự, nhân phẩm và sức khỏe của mỗi cá nhân, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em. Đồng thời, có nguy cơ làm xói mòn các giá trị truyền thống tốt đẹp, tác động xấu đến môi trường giáo dục thế hệ trẻ, ảnh hưởng đến sự an toàn lành mạnh của cộng đồng và trật tự xã hội.

 

Trong bối cảnh đó, hỗ trợ phụ nữ để họ tham gia một cách chủ động, trực tiếp giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ là một đòi hỏi tất yếu, thể hiện phụ nữ vừa là chủ thể giải quyết, vừa là đối tượng hưởng lợi từ sự tham gia đó. Bộ Chính trị đã khẳng định “phụ nữ có vai trò vừa là người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người”[2]. Vì vậy, việc tập trung tuyên truyền, giáo dục đạo đức lối sống thông qua vai trò của người phụ nữ sẽ không chỉ tác động đến bản thân người phụ nữ mà thông qua người phụ nữ sẽ tác động sâu sắc đến giáo dục thế hệ trẻ, giáo dục gia đình và có sức lan tỏa trong cộng đồng, xã hội.

 

Đề án “Tuyên truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2017-2027” được thực hiện sẽ hỗ trợ phụ nữ nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng để tham gia giải quyết các vấn đề xã hội có liên quan cũng như xây dựng các cơ chế, chính sách hỗ trợ phụ nữ, tập trung vào các chủ đề: an toàn vệ sinh thực phẩm, giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật, giáo dục gia đình, bạo lực gia đình đối với phụ nữ, mất cân bằng giới tính khi sinh và một số vấn đề xã hội khác.

 

 

PHẦN I

CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

 

  1. CĂN CỨ PHÁP LÝ
  2. Các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng

– Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII;

  • Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung năm 2011);
  • Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước;
  • Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 06/01/2012 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2011-2020;
  • Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI): Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay;
  • Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
  • Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước;

– Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020;

  • Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 15/5/2016 về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
  • Chỉ thị 08-CT/TW ngày 21 tháng 10 năm 2011 của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề an toàn thực phẩm trong tình tình mới”;
  • Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân;
  • Quyết định số 217-QĐ/TW về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội;

– Quyết định số 218-QĐ/TW về ban hành quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng đảng, xây dựng chính quyền;

– Quyết định số 938/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Tuyên truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ giai đoạn 2017 – 2022”;

– Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVI;

– Nghị quyết số 11 – NQ/TU ngày 31/5/2017 về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020 và những năm tiếp theo“; 

– Nghị quyết số 15-NQ/TU, ngày 4-7-2017 của  Ban Thường vụ Thành ủy về việc “Xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh, củng cố cơ sở Đảng yếu kém; giải quyết các vấn đề phức tạp về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn thuộc thành phố Hà Nội”.

  1. Các văn bản luật pháp, chính sách

– Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013;

– Các Luật: Luật Thủ đô và các văn bản hướng dẫn thi hành; Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng chống Bạo lực gia đình; Luật Hôn nhân và Gia đình; Luật An toàn thực phẩm năm 2010; Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân; Luật Trẻ em;

– Nghị định 56/2012/NĐ-CP Quy định trách nhiệm của Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo đảm cho các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý nhà nước;

– Các Chiến lược: Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020; Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030;Chiến lược quốc gia An toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030; Chiến lược quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược Dân số và Sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2011- 2020; Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020; Chương trình hành động quốc gia phòng chống bạo lực gia đình. Các chương trình công tác lớn của Thành ủy khóa XVI nhiệm kỳ 2015-2020 trên các lĩnh vực: xây dựng Đảng, hệ thống chính trị; phát triển nông nghiệp, nông thôn; phát triển kinh tế; phát triển văn hóa, xã hội; bảo đảm an ninh – quốc phòng; phát triển kết cấu, hạ tầng đô thị; thực hành tiết kiệm; phòng chống tham nhũng, lãng phí; cải cách hành chính. Các Kế hoạch giai đoạn của UBND thành phố Hà Nội triển khai các Chương trình chiến lược của Chính phủ trên địa bàn Thủ đô Hà Nội. 

 

  1. CĂN CỨ THỰC TIỄN
  2. Kết quả thực hiện một số đề án có liên quan giai đoạn 2010-2015

1.1. Đề án “Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Sau 5 năm thực hiện Đề án 343/QĐ – TTg ngày 12/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ về  “Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” giai đoạn 2010 – 2015 được đánh giá là hết sức cần thiết, đáp ứng được nhu cầu của các tầng lớp phụ nữ và yêu cầu của công tác tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Việc triển khai thực hiện, Đề án đã nhận được sự quan tâm, đồng tình hưởng ứng của các cấp, các ngành và đông đảo cán bộ, hội viên, phụ nữ trên địa bàn Thành phố. Các Sở, Ban, ngành, đoàn thể Thành phố và UBND các cấp đã nhận thức được về mục đích, yêu cầu và sự cần thiết của đề án, xác định việc chủ động triển khai Đề án có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần xây dựng mẫu hình người phụ nữ Thủ đô thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH, đồng thời có ý nghĩa lâu dài đối với sự tiến bộ, phát triển của phụ nữ và quá trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Đề án bước đầu tạo chuyển biến trong nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình và xã hội. Các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động thực hiện Đề án đã có tác động tích cực đến hội viên, phụ nữ, tạo thành phong trào thi đua trong các cấp Hội và hội viên, phụ nữ Thủ đô phấn đấu rèn luyện các phẩm chất đạo đức “Tự tin – Tự trọng – Trung hậu – Đảm đang”. Đa số cán bộ, hội viên, phụ nữ ý thức được trách nhiệm, niềm tự hào trong việc giữ gìn, phát huy giá trị đạo đức truyền thống, rèn luyện, tu dưỡng các phẩm chất đạo đức của phụ nữ Việt Nam tạo được những chuyển biến bước đầu về nhận thức và hành động của phụ nữ Thủ đô đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội trong thời kỳ mới, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. 

Tuy nhiên, Đề án được mới triển khai trong giai đoạn ngắn, vì vậy, chủ yếu tập trung cho việc tập huấn, truyền thông, tọa đàm trên diện rộng; nhiều đơn vị còn lúng túng trong việc xác định và lựa chọn nội dung hoạt động cho các mô hình chỉ đạo điểm phù hợp với đặc thù của địa phương và các đối tượng phụ nữ. UBND một số quận, huyện, thị xã chưa quan tâm đúng mức trong chỉ đạo triển khai thực hiện Đề án tại địa phương; tài liệu truyền thông còn thiếu hấp dẫn, chưa thu hút được đông đảo các đối tượng phụ nữ tham gia. Trước những tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường và những ảnh hưởng tiêu cực của thời kì mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, việc gìn giữ, phát huy những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có phần bị mai một. Quan niệm về các giá trị đạo đức truyền thống đang dần bị phai mờ trong nhận thức và lối sống của một bộ phận phụ nữ. Nhận thức của các cấp, các ngành liên quan về công tác tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống cũng như  đầu tư nguồn lực cho hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức, xây dựng các mô hình còn hạn chế.

  1.2. Đề án “Giáo dục 5 triệu bà mẹ nuôi dạy con tốt”

Sau 5 năm triển khai thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội đã đạt và vượt mục tiêu đề ra: 687.589 bà mẹ và 6.968 ông bố có con dưới 16 tuổi đã được tập huấn, trang bị kiến thức, thay đổi hành vi về phương pháp nuôi, dạy con khoa học, theo độ tuổi; trên 900.000 trẻ vị thành niên đã được tiếp cận các kiến thức về sức khỏe, sinh sản và giáo dục kỹ năng sống, góp phần hiệu quả vào công tác giáo dục, chăm sóc trẻ em, xây dựng cộng đồng an toàn, các thế hệ gia đình phát triển bền vững, thực hiện đầy đủ hơn quyền trẻ em.

Tuy nhiên, xu hướng toàn cầu hóa, sự phát triển của mạng xã hội và thế giới phẳng đang đặt ra nhiều thách thức trong việc chăm sóc, nuôi dạy và bảo vệ trẻ em đòi hỏi cha mẹ phải có kiến thức đủ, đúng, phù hợp với từng giai đoạn tuổi của con cũng như tình hình phát triển của đất nước, của địa phương. Đồng thời, có nhiều vấn đề xã hội nổi cộm trong chăm sóc và bảo vệ trẻ em hiện nay đòi hỏi vai trò quan trọng của gia đình và cha mẹ: xâm hại tình dục trẻ em, mang thai vị thành niên, bạo lực học đường…

1.3. Tiểu đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho phụ nữ nông dân và phụ nữ dân tộc thiểu số

Thực hiện tiểu đề án 4 “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho phụ nữ nông dân và phụ nữ dân tộc thiểu số” nằm trong Đề án “Tuyên truyền phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số” và Đề án “Tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật cho phụ nữ trên địa bàn Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2012 – 2016” được triển khai từ cuối năm 2012 góp phần tạo sự chuyển biến về nhận thức và hiểu biết về pháp luật trong các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận nhân dân trong đó có phụ nữ chưa cao, hiểu biết về pháp luật của các tầng lớp phụ nữ chưa đồng đều, nhất là đối với phụ nữ là nông dân, phụ nữ xa trung tâm thành phố, phụ nữ dân tộc thiểu số, nữ lao động nhập cư. Do vậy, khi có vấn đề bức xúc, phụ nữ dễ bị kích động, lôi kéo tham gia các đoàn khiếu kiện đông người. Một bộ phận phụ nữ thiếu hiểu biết pháp luật bị chạy theo lối sống coi trọng vật chất, đua đòi, hưởng thụ, vi phạm pháp luật, làm trái đạo đức, nhân phẩm, mắc tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến hình ảnh chung của phụ nữ; một bộ phận phụ nữ dân tộc thiểu số chịu tác động và ảnh hưởng nặng nề của hủ tục lạc hậu. Bên cạnh đó, giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp trong một bộ phận nhân dân bị mai một. Tình hình phụ nữ di cư từ nông thôn về lao động tại Hà Nội diễn ra phổ biến, gây nhiều sức ép cho quá trình phát triển của thành phố, như bùng nổ dân số, cơ sở hạ tầng không thể đáp ứng được, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, gây ra bất bình đẳng trong xã hội…. Phụ nữ trung niên khu vực thu hồi đất đã và đang đối mặt với nguy cơ không có việc làm, hoặc có việc làm không ổ định, thu nhập thấp, cá biệt có một số phụ nữ còn nghèo cùng cực. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TTP) của Việt Nam đã mang lại nhiều cơ hội, nhưng cũng tạo ra những thách thức cho các doanh nghiệp, trong đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ do nữ làm chủ đã gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin về pháp luật kinh tế, thương mại trong khu vực và trên thế giới.

Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho phụ nữ chưa đồng đều, thường xuyên, chưa hiệu quả ở một số địa phương nhất là ở vùng xa trung tâm thành phố; chưa hiệu quả với một số nhóm đối tượng phụ nữ, nhất là phụ nữ dân tộc, tôn giáo, phụ nữ nhập cư. Các mô hình về phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai nhiều nhưng còn chưa đa dạng, chưa hấp dẫn, một số mô hình chưa có sức lan tỏa trong công tác tuyên truyền pháp luật. Vai trò hỗ trợ, tư vấn, giúp đỡ các đối tượng phụ nữ đặc thù (phụ nữ di cư, phụ nữ là nạn nhân bị bạo lực gia đình, nữ phạm nhân…) chưa thật sự hiệu quả. Năng lực của đội ngũ cán bộ Hội làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu.

  1. Thực trạng một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ

* Tình hình đạo đức xã hội hiện nay

Cùng với sự biến đổi vô cùng to lớn của đời sống xã hội thời kỳ đổi mới, gia đình Việt Nam cũng diễn ra sự biến đổi một cách toàn diện. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống gia đình. Bên cạnh những tác động tích cực, những cơ hội phát triển mới, gia đình Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức mới. Đó là tình trạng ly hôn có xu hướng tăng cao; ngoại tình; sống chung không kết hôn; tệ nạn mại dâm; tình dục đồng giới; tình trạng trẻ em nghiện hút; trẻ em hư, phạm tội, có xu hướng tăng; bạo lực gia đình có diến biến phức tạp, trong đó có những vụ gây án mạng nghiêm trọng. Tư tưởng bất bình đẳng giới; mua bán hôn nhân có yếu tố nước ngoài; xu hướng tôn sùng tiền bạc trong quan hệ giữa người với người; tình trạng buôn lậu, tham nhũng, hối lộ, mua quan, bán chức gây bức xúc trong dư luận trong xã hội… đang tác động đến từng cộng đồng, tập thể, cá nhân, từng gia đình ở mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh, mọi phương diện. Một bộ phận phụ nữ sống thiếu lý tưởng, vô cảm, bàng quan trước các vấn đề bức xúc của xã hội, cộng đồng; còn có hiện tượng nữ thanh niên thích hưởng thụ, đua đòi, dễ bị lôi kéo vào con đường tệ nạn xã hội; một số phụ nữ vi phạm pháp luật như tham gia vào các hoạt động buôn bán phụ nữ, trẻ em; buôn bán, tàng trữ và sử dụng ma tuý trái phép; tham gia chơi lô đề, cờ bạc, mê tín dị đoan; … Hoạt động mại dâm diễn ra khá phức tạp.

Đạo đức nghề nghiệp sa sút ngay cả trong những lĩnh vực được xã hội tôn vinh như: y tế, giáo dục, luật pháp, báo chí…. Một bộ phận người dân vì lợi nhuận trước mắt bất chấp thủ đoạn vẫn sử dụng hóa chất, phụ gia độc hại vào lương thực, thực phẩm. Vì danh lợi người ta sẵn sàng chà đạp tình nghĩa, đạo lý, nhân phẩm. Đạo đức học đường, văn hóa giao tiếp trong nhà trường cũng có nhiều biểu hiện đáng lo ngại, từ bạo lực học đường, hành xử thiếu văn hóa đến gian lận, dối trá trong thi cử, bệnh thành tích, lối sống thiếu lý tưởng, hoài bão, thiếu ý chí phấn đấu.

* Bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Tình trạng bạo lực trong gia đình chưa có nhiều thay đổi, chuyển biến tích cực và hơn nữa nó dần trở thành như một hiện tượng của xã hội, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các thành viên khác trong gia đình, đặc biệt là trẻ em. Những hành vi bạo lực gia đình đã thể hiện lối sống thiếu trách nhiệm, việc ứng xử thiếu văn hóa trong gia đình, phản ánh sự suy thoái về đạo đức của một số thành viên trong gia đình gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng mà trước hết là vi phạm đến quyền con người, danh dự, nhân phẩm và tính mạng của mỗi cá nhân, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em. Từ năm 2008 đến nay trên địa bàn thành phố Hà Nội đã phát hiện và hỗ trợ 586 trường hợp bị bạo lực gia đình[3].

          Tình trạng bất bình đẳng giới vẫn tồn tại, tư tưởng gia trưởng, trọng nam, khinh nữ vẫn còn, sự hạn chế nhận thức về quyền của phụ nữ đã gây ảnh hưởng nặng nề tới đời sống của phụ nữ. Trong cuộc sống hôn nhân, bạo lực gia đình khó nhận biết và phát hiện do tâm lý tự ty của phụ nữ và phụ nữ không muốn lên tiếng khi bị bạo lực do lo sợ ảnh hưởng đên cuộc sống của gia đình và các con. Việc can thiệp, trợ giúp cho nạn nhân là phụ nữ và trẻ em bị bạo lực gia đình tại cộng đồng ở một số địa phương còn lúng túng.

* Mất cân bằng giới tính khi sinh

          Tỷ lệ mất cân bằn giới tính khi sinh vẫn còn cao, tính đến cuối năm 2016, tỷ số giới tính khi sinh của Thành phố Hà Nội 114 bé trai/100 bé gái. Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ dẫn đến hậu quả thừa nam thiếu nữ. Các hệ lụy nghiêm trọng tiềm ẩn có nguy cơ khắc sâu thêm vấn đề bất bình đẳng giới và có thể biến đổi xã hội theo chiều hướng xấu như: thiếu phụ nữ sẽ làm gia tăng áp lực buộc họ phải kết hôn sớm hơn và nam giới khó khăn hơn trong việc tìm kiếm bạn đời; có thể gia tăng bất bình đẳng giới trong tiếp cận việc làm; nhu cầu mua bán tình dục, xâm hại tình dục tăng và tình hình buôn bán phụ nữ sẽ phức tạp.

* An toàn thực phẩm

          Thực phẩm là nguồn cung cấp dinh dưỡng không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Thực phẩm an toàn đóng góp to lớn trong việc cải thiện sức khoẻ con người, chất lượng cuộc sống và chất lượng giống nòi. Hiện nay đã có khá nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong công tác bảo đảm ATTP cũng như biện pháp về quản lý như ban hành luật, điều lệ và thanh tra giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, hiện nay con người đang phải đối mặt với thực phẩm bẩn, không đảm bảo vệ sinh về chất lượng, về độ an toàn trong chế biến sản xuất. An toàn thực phẩm (ATTP) là trở thành vấn đề nhức nhối trong xã hội khi ngày càng có nhiều người mắc bệnh khi ăn phải thực phẩm bẩn. Rất nhiều vấn đề nổi cộm cần được quan tâm xử lý để giải quyết dứt điểm như vấn đề sử dụng salbutamol, vàng ô, kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục, sự dụng chất kích thích tăng trưởng trong chăn nuôi, dùng hoá chất cấm trong chế biến nông, thủy sản, còn nhiều cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu quy chuẩn kỹ thuật về bảo đảm vệ sinh ATTP trong các khâu sản xuất ban đầu như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản đến khâu bảo quản, sơ chế, chế biến…. Công tác quản lý ATTP tại các chợ, quản lý rượu và nhập khẩu rượu giả, kinh doanh thực phẩm chức năng vẫn còn chồng chéo; việc kiểm tra chất lượng hàng hóa vẫn còn gặp nhiều hạn chế, công tác kiểm nghiệm, đánh giá, chứng nhận chất lượng sản phẩm còn nhiều bất cập.

          * Giáo dục gia đình, giáo dục làm cha mẹ

          Hiện nay, trên địa bàn Thủ đô có trên 3 triệu phụ nữ, trong đó có trên 800.000 hội viên và trên 1 triệu phụ nữ có con dưới 16 tuổi. Việc giáo dục gia đình có vai trò quan trọng trong hình thành và phát triển nhân cách của con người. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay, vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ các bậc cha mẹ chưa dành thời gian để chăm sóc con cái. Do phải vật lộn mưu sinh, nên nhiều gia đình, việc nuôi dạy con cái thường phải dựa vào ông bà, bà con họ hàng hay thậm chí con cái họ phải tự lo cuộc sống hàng ngày hoặc phó mặc giao con cho người giúp việc. Sự thiếu quan tâm của cha mẹ đối với con cái có thể dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực cả về mối liên hệ tình cảm cha mẹ – con cái hoặc tăng thêm nguy cơ đối với các hành vi lệch chuẩn trong cuộc sống. Không ít trẻ em trong các gia đình không được cha mẹ quan tâm đã bỏ học, đi lang thang bụi đời, để cuối cùng rơi vào vòng xoáy của các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút, cướp giật, mại dâm, trộm cắp,… Vấn đề xâm hại tình dục trẻ  em ngày càng có tính chất phức tạp và độ tuổi bị xâm hại ngày càng thấp, từ năm 2012 đến năm 2017 các cơ quan chức năng của Hà Nội đã phát hiện 95 vụ việc xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em, trong đó nạn nhân ít tuổi nhất là 3 tuổi. Số trẻ em bị xâm hại tình dục chủ yếu là bị hiếp dâm, đối tượng phạm tội phần lớn là người gần gũi với nạn nhân. Nhưng ngay cả khi, các bậc cha mẹ đầu tư đúng mức cho giáo dục gia đình, giáo dục đạo đức cho con cái thì họ cũng vẫn gặp phải nhiều khó khăn, trong đó 3 khó khăn lớn nhất chính là thiếu kiến thức kinh nghiệm, thiếu thời gian, không thống nhất về giá trị chuẩn mực giữa cha mẹ và con cái.               

 

PHẦN II

NỘI DUNG ĐỀ ÁN

 

  1. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

– Lấy phụ nữ làm trung tâm – vừa là chủ thể hành động vừa là đối tượng thụ hưởng để xây dựng nhiệm vụ và giải pháp của đề án, đảm bảo giải quyết được một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ với vai trò chủ động, trực tiếp của người phụ nữ. Hoạt động phải gắn với nhu cầu và mong muốn của phụ nữ.

– Bám sát chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của thành phố, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVI và 8 Chương trình công tác lớn của Thành ủy nhiệm kỳ 2015 – 2020; việc thực hiện Chỉ thị 05 – CT/TW ngày 15/5/2016 về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết Đại hội XVI của Đảng bộ Thành phố về: Xây dựng văn hóa Thủ đô tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, kế thừa, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của Thăng Long – Hà Nội “Ngàn năm văn hiến, Thủ đô anh hùng, Thành phố vì hòa bình”; Nghị quyết số 15-NQ/TU, ngày 4-7-2017 của  Ban Thường vụ Thành ủy về việc “Xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh, củng cố cơ sở Đảng yếu kém; giải quyết các vấn đề phức tạp về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn thuộc thành phố Hà Nội”. Thực hiện tốt mục tiêu xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh; bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, xây dựng Thủ đô Hà Nội thực sự là trung tâm văn hóa lớn.

– Tổ chức các hoạt động của Đề án phải đảm bảo tính đồng bộ, xuyên suốt các vấn đề, hoạt động tuyên truyền giáo dục đạo đức/pháp luật, kiến thức/kỹ năng thực hành của phụ nữ, tạo được sức lan tỏa lớn, chuyển biến rõ nét của phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội ưu tiên.

– Kế thừa, phát huy những kết quả và bài học kinh nghiệm tổ chức thực hiện giai đoạn 2010-2015 các đề án Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, đề án Giáo dục 5 triệu bà mẹ nuôi dạy con tốt, tiểu đề án Tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho phụ nữ nông dân và phụ nữ dân tộc thiểu số và Kế hoạch “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật cho phụ nữ trên địa bàn Thủ đô” giai đoạn 2012 – 2016.

– Tổ chức các hoạt động của đề án gắn với triển khai thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” và  Nghị quyết Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ XII, Nghị quyết Đại hội phụ nữ Hà Nội lần thưa XV..

– Bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả, có trọng tâm, không trùng lặp với chương trình, đề án khác đang được các Sở , ngành thực hiện.

  1. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN
  2. Mục tiêu
  3. 1. Mục tiêu chung

Nâng cao kiến thức, kỹ năng, thực hành của phụ nữ, phát huy vai trò chủ động của phụ nữ trong ứng phó và tham gia giải quyết hiệu quả một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực, nâng cao chất lượng cuộc sống của phụ nữ, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của Thủ đô.

  1. 2. Mục tiêu cụ thể
  2. a) Mục tiêu giai đoạn 2017 – 2022

– 400.000 hội viên, phụ nữ, cha mẹ có con dưới 16 tuổi được cung cấp thông tin, kiến thức về giữ gìn, rèn luyện phẩm chất đạo đức và ý thức chấp hành pháp luật; về giáo dục làm cha mẹ; khả năng, vai trò của phụ nữ trong bảo đảm an toàn thực phẩm, phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới.

– 80% cán bộ chuyên trách của các cơ quan tham gia triển khai Đề án được bồi dưỡng nâng cao năng lực về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nhằm hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội.

Tuyên truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ được 1.000 đối tượng phụ nữ thiếu kiến thức, kỹ năng, có nguy cơ hoặc vi phạm đạo đức, pháp luật trong các vấn đề xã hội nổi cộm được lựa chọn tác động có chuyển biến tích cực về hành vi.

– 100.000 phụ nữ được cung cấp kiến thức, kỹ năng phòng chống bạo lực giới, bạo lực gia đình sẵn sàng lên tiếng trước các hành vi bạo lực.

– Hàng năm, không để xảy ra tình trạng các vụ việc xâm hại, bạo lực nghiêm trọng đối với phụ nữ và trẻ em mà Hội không lên tiếng kịp thời.

– Mỗi xã, phường, thị trấn xây dựng được ít nhất 01 mô hình vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết, giám sát một số vấn đề xã hội ưu tiên có thể nhân rộng.

  1. b) Phấn đấu đến năm 2027

– 500.000 hội viên, phụ nữ, cha mẹ có con dưới 16 tuổi được cung cấp thông tin, kiến thức về sự cần thiết phải giữ gìn và rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức chấp hành pháp luật; về giáo dục làm cha mẹ; về khả năng, vai trò của phụ nữ trong đảm bảo an toàn thực phẩm; phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới, trong đó 60% thực hiện chuyển đổi hành vi.

– 95% cán bộ chuyên trách các cơ quan tham gia triển khai Đề án được bồi dưỡng nâng cao năng lực về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết các vấn đề xã hội ưu tiên.

Tuyên truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ được ít nhất 1.300 phụ nữ còn thiếu kiến thức, kỹ năng, có nguy cơ hoặc vi phạm đạo đức, pháp luật trong các vấn đề xã hội nổi cộm được lựa chọn tác động có chuyển biến tích cực về hành vi.

– 150.000 phụ nữ được cung cấp kiến thức, kỹ năng phòng, chống bạo lực giới, bạo lực gia đình sẵn sàng lên tiếng trước các hành vi bạo lực.

– Hàng năm, không để xảy ra tình trạng các vụ việc xâm hại, bạo lực nghiêm trọng đối với phụ nữ và trẻ em mà Hội không lên tiếng kịp thời.

– Các mô hình hiệu quả vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết, giám sát một số vấn đề xã hội ưu tiên được duy trì và nhân rộng, làm cơ sở đề xuất, vận động chính sách.

III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, LỘ TRÌNH THỰC HIỆN

  1. Đối tượng của đề án

– Phụ nữ, hội viên phụ nữ.

– Cha mẹ có con dưới 16 tuổi.

– Cán bộ Hội Phụ nữ và các cơ quan triển khai Đề án các cấp.

Trong đó, chú trọng các nhóm phụ nữ đặc thù (phụ nữ có nguy cơ vi phạm pháp luật, phụ nữ dễ bị tổn thương, phụ nữ khó khăn ít tiếp  cận thông tin…) ở địa bàn trọng điểm có nhiều phức tạp về trật tự xã hội được lựa chọn ưu tiên thực hiện các nội dung của Đề án.

  1. Phạm vi thực hiện

Đề án tập trung vào các vấn đề: Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức; Qui tắc ứng xử, xây dựng người Hà Nội thanh lịch – văn minh; Tuyên truyền, giáo dục pháp luật; Giáo dục kiến thức, kỹ năng làm cha mẹ; Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; Vệ sinh môi trường; Phòng chống bạo lực trên cơ sở giới/bạo lực gia đình, trong đó tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức và tuyên truyền, giáo dục pháp luật là nội dung xuyên suốt trong quá trình thực hiện Đề án từ Thành phố tới địa phương.

Đề án được triển khai tại tất cả các quận, huyện, thị xã trên địa bàn thành phố, trong đó ưu tiên chỉ đạo và đầu tư nguồn lực cho các địa phương có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, địa bàn phức tạp và nhiều vấn đề xã hội bức xúc liên quan đến phụ nữ. Các Sở, ban, ngành có liên quan, các quận, huyện, thị xã căn cứ chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tế xác định nội dung thực hiện đảm bảo các mục tiêu đề ra.

  1. Thời gian, lộ trình thực hiện

Đề án được triển khai trong 10 năm, từ năm 2017-2027 được chia làm 2 giai đoạn như sau:

– Giai đoạn 1 (2017-2022): đẩy mạnh, nâng cao chất lượng truyền thông, giáo dục, vận động, hỗ trợ phụ nữ nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng về các nội dung thuộc phạm vi đề án; xây dựng mô hình, điển hình; nghiên cứu, đề xuất chính sách giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ; tăng cường phối hợp với ngành chức năng trong việc tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội liên quan đến phu nữ.

  • Giai đoạn 2 (2022 -2027): tập trung hỗ trợ phụ nữ chuyển đổi hành vi thông qua các mô hình, điển hình đã được xây dựng; phát huy tính chủ động của phụ nữ trong giải quyết các vấn đề xã hội có liên quan; nghiên cứu, đề xuất chính sách.
  1. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
  2. Nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông, giáo dục, vận động phụ nữ giữ gìn, rèn luyện đạo đức, ý thức pháp luật, chủ động tham gia giải quyết hiệu quả một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ

– Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục rèn luyện phẩm chất đạo đức và ý thức chấp hành pháp luật, các giá trị đạo đức truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam; phòng, chống bạo lực gia đình trên cơ sở giới; phát huy vai trò của phụ nữ trong bảo đảm an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường sống.

 – Tổ chức các hoạt động truyền thông, cung cấp thông tin, kiến thức, kỹ năng giáo dục chăm sóc con cái và phát triển trẻ em cho các bậc cha mẹ.

 – Nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông, giáo dục, vận động phụ nữ giữ gìn, rèn luyện đạo đức, văn hóa ứng xử, ý thức chấp hành pháp luật, tham gia giải quyết hiệu quả một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, vận động, hỗ trợ phụ nữ thiếu kiến thức, kỹ năng, có nguy cơ hoặc vi phạm đạo đức, pháp luật trong các vấn đề xã hội nổi cộm có chuyển biến tích cực về hành vi.

– Chú trọng phát hiện, xây dựng điển hình, cách làm hiệu quả hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ để truyền thông, nhân rộng.

– Xây dựng và phát huy mạng lưới cộng tác viên, tuyên truyền viên, tư vấn viên than gia truyền thông, giáo dục phẩm chất đạo đức, giáo dục pháp luật, giáo dục làm cha  mẹ, an toàn thực phẩm, phòng chống bạo lực giới, bạo lực gia đình đến các nhóm đối tượng khác nhau, vận động hỗ trợ đối tượng chuyển đổi hành vi.

– Tuyên truyền phụ nữ và nhân dân trong hoạt động sản xuất nông nghiệp đẩy mạnh công tác khuyến nông, tạo điều kiện phụ nữ áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, tiếp cận nhiều hơn với kiến thức và công nghệ mới; giúp đỡ phụ nữ được tiếp cận vốn, công cụ sản xuất mới… áp dụng kiến thức vào trồng trọt, chăn nuôi đạt năng suất hiệu quả và thu nhập cao.

 

  1. Xây dựng các mô hình vận động, hỗ trợ phụ nữ chủ động giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ

– Rà soát, đánh giá các mô hình hiện có tiếp tục duy trì và phát triển. Mỗi xã, phường khảo sát, lựa chọn xây dựng từ ít nhất 02 mô hình vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết các vấn đề xã hội; đánh giá hiệu quả, rút kinh nghiệm và nhân rộng.

– Quan tâm nghiên cứu xây dựng mô hình tư vấn, trợ giúp, hỗ trợ phù hợp từng nhóm đối tượng phụ nữ: tư vấn pháp luật về quyền của phụ nữ; mô hình giám sát thực hành về an toàn thực phẩm tại địa phương; mô hình hỗ trợ phụ nữ tiêu thụ sản phẩm, kết nối người tiêu dùng với người sản xuất các sản phẩm nông nghiệp an toàn; mô hình hỗ trợ, nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình và xã hội.

– Vận động phụ nữ tích cực tham gia hoạt động cộng đồng. Kịp thời lên tiếng với các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với các vụ việc xâm hại, bạo lực nghiêm trọng phụ nữ và trẻ em.

Tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm, cách làm hay, các mô hình điển hình trong việc tham gia giải quyết các vấn đề xã hội, các kinh nghiệm về tham gia giải quyết các điểm nóng, các vụ việc phức tạp.

  1. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ phụ nữ giải quyết các vấn đề xã hội liên quan

– Tổ chức Hội nghị tuyên truyền, quán triệt đến cán bộ chuyên trách các cơ quan tham gia triển khai thực hiện Đề án, về: nội dung, mục đích, lợi ích thực hiện Đề án nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội.

– Tập huấn cách thức tổ chức thực hiện các nội dung của Đề án cho cán bộ chuyên trách các cơ quan liên quan. Xây dựng lực lượng cán bộ, báo cáo viên, tuyên truyền viên nòng cốt trong công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ và nhân dân chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới, về các giá trị truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, rèn luyện ý thức tự chủ, phấn đấu vươn lên, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng.

– Biên soạn, khai thác tài liệu tuyên truyền (tờ gấp, video clip ngắn, tiểu phẩm, kịch, ….) để vận động, hướng dẫn phụ nữ tham gia giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ.

– Tổ chức hoạt động tham quan, học tập mô hình tại một số địa phương về sự tham gia của phụ nữ trong giải quyết một số vấn đề xã hội trong triển khai các nội dung của Đề án.

  1. Xây dựng, hoàn thiện và thực hiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết hiệu quả các vấn đề xã hội; Nghiên cứu, đề xuất chính sách; Giám sát việc thực thi pháp luật về các chủ đề của Đề án

– Nghiên cứu thực tiễn, tham mưu đề xuất chính sách, tham gia đóng góp các dự thảo chính sách, luật pháp về các vấn đề liên quan đến phụ nữ.

– Phát huy vai trò của phụ nữ trong giám sát việc thực hiện các chính sách, pháp luật liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình, vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm sóc và giáo dục trẻ em, kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh.

– Nắm bắt thông tin, tổng hợp tình hình phụ nữ, trẻ em gái bị bạo lực giới/bạo lực gia đình, có biện pháp hỗ trợ.

– Các Sở, ban, ngành phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn UBND các quận, huyện, thị xã và cơ sở tổ chức thực hiện các nội dung và mục tiêu của Đề án.

  1. Tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các hoạt động của Đề án

– Tổ chức Hội thảo, toạ đàm đánh giá việc triển khai thực hiện Đề án, chú trọng đánh giá kết quả việc triển khai thực hiện các mô hình điểm.

– Kiểm tra, giám sát  đánh giá việc thực hiện các mục tiêu và nội dung của Đề án tại các địa phương, các ngành.

 – Tổ chức đánh giá việc thực hiện Đề án hàng năm; Sơ kết giữa kì, tổng kết cuối kì, đề xuất các giải pháp thực hiện và khắc phục những hạn chế tồn tại trong quá trình triển khai thực hiện của mỗi cấp, mỗi ngành.

  1. Tăng cường khai thác và cận động các nguồn lực

– Tổ chức các hoạt động chia sẻ kết quả, vận động nguồn lực triển khai các hoạt động của Đề án.

– Tăng cường hợp tác với các tổ chức, vận động, hỗ trợ nguồn lực triển khai các hoạt động của Đề án.

  1. KINH PHÍ

– Ngân sách nhà nước bao gồm: Ngân sách nhà nước theo phân cấp ngân sách hiện hành; kinh phí lồng ghép từ các chương trình, đề án khác. Việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

– Nguồn kinh phí huy động hợp pháp từ các tổ chức cá nhân theo quy định của pháp luật.

  1. Cơ chế tài chính
  2. a) Kinh phí ngân sách Nhà nước bảo đảm thực hiện Đề án thuộc cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm theo phân cấp ngân sách hiện hành và được bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm của Hội LHPN thành phố, các sở, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các cấp theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản pháp luật khác có liên quan theo nguyên tắc như sau:

– Ngân sách Thành phố bảo đảm kinh phí đối với các nội dung công việc do Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố và các sở, ngành thành phố thực hiện.

– Đối với một số hoạt động của đề án được lồng ghép vào hoạt động của một số chương trình, đề án hiện đã được thành phố phê duyệt thực hiện theo cơ chế chung đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt..

– Ngân sách địa phương bảo đảm kinh phí đối với các nội dung công việc do Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp thuộc địa phương quản lý và các nội dung công việc do các cơ quan thuộc địa phương thực hiện.

  1. b) Căn cứ vào hướng dẫn của Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố về các nội dung công việc cần triển khai để thực hiện Đề án, hàng năm, Hội Liên hiệp Phụ nữ các quận/huyện xây dựng dự toán ngân sách trình Uỷ ban nhân dân phê duyệt làm cơ sở thực hiện; báo cáo kết quả thực hiện về Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố.
  2. c) Hàng năm, Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố và các bộ, ngành tham gia triển khai Đề án xây dựng dự toán thực hiện các nhiệm vụ của Đề án do ngành mình thực hiện gửi Sở Tài chính theo quy định.
  3. d) Tăng cường việc xã hội hóa để thực hiện Đề án một cách hiệu quả, thiết thực. Huy động thêm kinh phí của các tổ chức, cá nhân và cộng đồng để bổ sung cho việc thực hiện Đề án. Việc quản lý và sử dụng kinh phí được thực hiện theo các quy định hiện hành.
  4. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
  5. Hội Liên hiệp phụ nữ Hà Nội

 

* Ban Chính sách – Luật Pháp

– Đầu mối triển khai các hoạt động thực hiện đề án. Chủ trì, phối hợp với các Ban, đơn vị tham mưu Ban Thường vụ Hội LHPN Hà Nội chỉ đạo, triển khai thực hiện trong các cấp Hội; tham mưu phối hợp với các Sở, Ban, Ngành Thành phố triển khai thực hiện đề án hàng năm và giai đoạn đảm bảo mục tiêu đề ra.

 

– Tổ chức các hoạt động sự kiện truyền thông về Bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình, bạo lực giới phòng, chống mua bán người, truyền thông, giáo dục, vận động nâng cao ý thức chấp hành pháp luật…Triển khai hoạt động tuyên truyền, vận động, hỗ trợ phụ nữ vùng dân tộc thiểu số, lao động nhập cư.

 

– Hướng dẫn các cấp Hội tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em trong các vụ việc xâm hại phụ nữ, trẻ em. Triển khai hoạt động tư vấn, hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình, nạn nhân bị mua bán người tại cộng đồng; Tư vấn, hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài; tham gia thí điểm kết nối đường dây nóng hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình/bạo lực giới do Trung ương Hội xây dựng.

 

– Nghiên cứu, hướng dẫn thành lập mô hình tư vấn, trợ giúp một số nhóm phụ nữ đặc thù, thành lập nhóm chuyên gia, tư vấn, tổ công  tác tham gia tuyên truyền, vận động, giải quyết một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ cấp thành phố, quận, huyện, thị xã. Duy trì và nâng cao hiệu quả các mô hình vận động, hỗ trợ phụ nữ chủ động giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ đang hoạt động tại cộng đồng.

 

– Nghiên cứu, tham mưu đề xuất chính sách, tham gia đóng góp dự thảo chính sách, luật pháp liên quan đến phụ nữ và trẻ em và bình đẳng giới. Giám sát việc thực hiện pháp luật về các chủ đề của đề án 938, lồng ghép với việc giám sát các nội dung theo kế hoạch hàng năm đề ra.

 

– Tổ chức các hoạt động nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ phụ nữ giải quyết một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ, cán bộ thực hiện đề án 938. Tổ chức các cuộc họp, hội thảo, tọa đàm trao đổi kinh nghiệm; kiểm tra, giám sát; sơ kết, đánh giá việc thực hiện đề án. Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất với Trung ương Hội, UBND thành phố theo quy định.

 

* Ban Tuyên giáo

 

– Tổ chức các hoạt động truyền thông, giáo dục, vận động phụ nữ giữ gìn, rèn luyện phẩm chất đạo đức; phát hiện, xây dựng điển hình tốt, cách làm hiệu quả nhằm hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ để tuyên truyền, nhân rộng.

 

– Phối hợp với các cơ quan thông tin, báo chí tuyên truyền các nội dung hoạt động của đề án trên các phương tiện thông tin đại chúng, trang webside của Hội.

 

– Lồng ghép triển khai các hoạt động của đề án với hoạt động thuộc chương trình, nhiệm vụ Ban phụ trách, triển khai.

 

* Ban Gia đình – xã hội

 

– Tổ chức các hoạt động truyền thông thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm; hướng dẫn, giáo dục cha, mẹ có con dưới 16 tuổi trong chăm sóc và phát triển trẻ thơ.

 

– Hướng dẫn xây dựng, duy trì và nâng cao hiệu quả mô hình chi hội phụ nữ thực hiện thay đổi hành vi trong an toàn thực phẩm; mô hình giáo dục cha mẹ nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình văn minh hạnh phúc.

 

– Lồng ghép triển khai các hoạt động của đề án với hoạt động thuộc chương trình, nhiệm vụ Ban phụ trách, triển khai.

 

* Ban Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

 

– Triển khai các hoạt động truyền thông, tập huấn cho cán bộ Hội, Chi hội trưởng, Ban quản lý HTX/tổ hợp tác do phụ nữ quản lý và một số hộ gia đình về sản xuất kinh doanh nông sản, thực phẩm an toàn.

 

– Lồng ghép triển khai các hoạt động của đề án với hoạt động thuộc chương trình, nhiệm vụ Ban phụ trách, triển khai.

 

* Các Ban, đơn vị chuyên môn khác: Lồng ghép triển khai, thông tin, tuyên truyền về hoạt động của đề án với chương trình, nhiệm vụ công tác đang triển khai theo chức năng, nhiệm vụ được phân công. Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cụ thể theo sự phân công của Thường trực Hội LHPN Hà Nội.

 

  1. Hội LHPN quận, huyện, thị xã và cơ sở

 

– Căn cứ nội dung Đề án của Hội LHPN thành phố, bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện đề án; triển khai tuyên truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ trên địa bàn theo từng giai đoạn và Kế hoạch hàng năm.

 

– Phối hợp với các cấp chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể triển khai đề án 938 tại địa phương, đơn vị. Định kỳ hàng năm, giai đoạn tiến hành sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện đề án.

 

– Lồng ghép hoạt động tuyên truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ với thực hiện nhiệm vụ trọng tâm công tác Hội, tuyên truyền phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước. Phối hợp Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật địa phương, các ban, ngành, đoàn thể tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền.

 

– Chủ động, kiện toàn và nâng cao chất lượng vai trò đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, hòa giải viên ở cơ sở trong công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ.

 

 

  1. Công tác phối hợp

 

Hội LHPN cấp nào phối hợp với các ban, ngành đoàn thể cấp đó để tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ cho phù hợp và hiệu quả

 

VII. HIỆU QUẢ VÀ TÍNH BỀN VỮNG CỦA ĐỀ ÁN

 

  1. Tác động, hiệu quả của Đề án

    

      Đề án được thực hiện thành công sẽ:

 

– Giúp nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức, văn hóa ứng xử, lối sống của phụ nữ Hà Nội thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ý thức chấp hành pháp luật hướng tới chuyển đổi hành vi của phụ nữ góp phần xây dựng Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại.

 

– Góp phần quan trọng trong việc phòng chống bạo lực gia đình, củng cố và xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, củng cố sự bền vững gia đình, nâng cao chất lượng các mối quan hệ các thành viên trong gia đình.

 

– Góp phần nâng cao nhận thức, thái độ, tiến đến thay đổi hành vi về an toàn vệ sinh thực phẩm cho các nhóm phụ nữ kinh doanh, tiêu dùng, sản xuất thực phẩm quy mô nhỏ lẻ, góp phần đảm sức khỏe gia đình và cộng đồng, thực hiện Luật An toàn thực phẩm và đạt mục tiêu của Chiến lược quốc gia An toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030.

 

– Tăng cường nhận thức, kiến thức và thực hành của bậc cha, mẹ có con dưới 16 tuổi trong việc nuôi, dạy con tốt và an toàn nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng gia đình Thủ đô no ấm, tiến bộ, hạnh phúc bền vững.

 

– Góp phần quan trọng trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhóm phụ nữ dễ bị tổn thương và cộng đồng nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ và hỗ trợ phụ nữ; thúc đẩy thực hiện quyền của phụ nữ và mục tiêu bình đẳng giới.

 

– Góp phần giảm chi phí xã hội và nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến gia đình như vệ sinh an toàn thực phẩm, bạo lực gia đình, mất cân bằng giới tính khi sinh, qua đó góp phần tăng hiệu quả sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của phụ nữ và người dân.

 

  1. Tính bền vững của Đề án

 

– Đội ngũ cán bộ chuyên trách các cấp chuyên sâu trong công tác tuyên truyền vận động được xây dựng và nâng cao năng lực – là những người có trách nhiệm và kinh nghiệm trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động truyền thông, vận động thu hút sự tham gia ở cộng đồng, có khả năng lồng ghép các hoạt động của Đề án vào các chương trình, dự án khác đang thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội.

 

– Nội dung của Đề án thiết thực, giúp cho phụ nữ và cộng đồng nâng cao nhận thức và có kiến thức, kỹ năng trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức xã hội, phòng chống bạo lực gia đình, nuôi dạy con, an toàn vệ sinh thực phẩm, thực hiện chính sách, pháp luật, tạo nên sự kết nối bền vững các mối quan hệ trong gia đình và xã hội. Việc thực hiện đề án được sự chỉ đạo của hệ thống cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể, xã hội và sự tham gia rộng rãi của các gia đình, các thành viên trong gia đình nên Đề án có tính bền vững cao.

  Nơi nhận:

 

– TW Hội LHPN Việt Nam

– UBND Thành phố Hà Nội

– Thường trực, các ban Hội LHPN Hà Nội

– Hội LHPN các quận, huyện, thị xã

– Lưu: VT,

TM. BAN THƯỜNG VỤ

      CHỦ TỊCH

 

 

(Đã ký)

 

 

Trần Thị Phương Hoa

 

[1] Báo cáo kết quả 10 năm thực hiện Nghị quyết 11 Bộ Chính tri (2007 – 2017).

[2] Đánh giá thực hiện Nghị quyết 11/NQ-TW của Bộ Chính trị về tăng cường công tác phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

[3] Báo cáo đánh giá 10 năm (2008 – 2017) của ngành LĐTBXH TP Hà Nội về thi hành Luật Bình đẳng giới.