Sunday, 14:48 08-11-2026
Hotline: (04) 3942 2881
Sunday, 14:48 08-11-2026

PHỤ NỮ THỦ ĐÔ "TRUNG HẬU - SÁNG TẠO - ĐẢM ĐANG - THANH LỊCH"

Quốc Tử Giám – Quốc học Việt Nam: Dấu mốc quan trọng của nền giáo dục Đại Việt

Chủ Nhật, 13:08 08/11/2026

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn coi trọng việc học, chăm lo đào tạo và sử dụng người tài để xây dựng đất nước. Quốc Tử Giám ra đời năm 1076 tại kinh đô Thăng Long là dấu mốc quan trọng của nền giáo dục Đại Việt, thể hiện nhận thức của cha ông về vai trò của giáo dục và hiền tài đối với sự hưng thịnh của quốc gia. Trải qua những biến thiên của lịch sử, những đóng góp của Quốc Tử Giám và các giá trị văn hóa, giáo dục được lưu giữ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã trở thành một phần tiêu biểu của nền văn hiến Việt Nam.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám

I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA QUỐC TỬ GIÁM

1. Sự ra đời của Quốc Tử Giám

Thế kỷ XI, cùng với việc củng cố nền độc lập, tự chủ, nhà Lý từng bước xây dựng bộ máy nhà nước, phát triển kinh tế, văn hóa và mở mang việc học. Yêu cầu quản lý đất nước đặt ra nhiệm vụ đào tạo, tuyển chọn những người có học vấn tham gia công việc của triều đình. Trong bối cảnh đó, việc tổ chức giáo dục và khoa cử trở thành một nội dung quan trọng của công cuộc xây dựng quốc gia.

Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho dựng Văn Miếu tại kinh đô Thăng Long. Năm 1075, dưới triều vua Lý Nhân Tông, triều đình tổ chức khoa thi Nho học đầu tiên. Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám. Ba sự kiện đánh dấu những bước phát triển có quan hệ chặt chẽ trong lịch sử giáo dục Đại Việt: xây dựng nơi tôn vinh đạo học, tổ chức thi tuyển và hình thành cơ sở đào tạo của nhà nước. Trong đó, việc thành lập Quốc Tử Giám xác lập một thiết chế giáo dục quan trọng ở trung tâm chính trị, văn hóa của đất nước.

Quốc Tử Giám là trường quốc học đầu tiên của Việt Nam, cơ sở giáo dục tại trung ương do nhà nước quân chủ tổ chức. Việc lập trường cho thấy sự quan tâm đến đào tạo con người bằng một thiết chế có tổ chức, gắn việc học với yêu cầu xây dựng đội ngũ phục vụ quốc gia. Cùng với việc tiếp thu Nho học, triều đình chủ động tổ chức giáo dục, thi cử để đáp ứng nhu cầu của Đại Việt; qua đó góp phần xây dựng nền tảng văn hóa, học thuật của một quốc gia độc lập.

2. Quá trình phát triển qua các thời kỳ lịch sử

Dưới thời Trần, Quốc Tử Giám tiếp tục được tu sửa, mở rộng; việc tuyển chọn người học từng bước được mở rộng đến những người có học lực xuất sắc ngoài tầng lớp quý tộc. Sự phát triển đó gắn với yêu cầu tăng cường đội ngũ quan lại có học vấn cho nhà nước. Dưới triều vua Trần Minh Tông, Chu Văn An được mời giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Việc trọng dụng một nhà giáo nổi tiếng về học vấn và đức độ thể hiện sự coi trọng người thầy, chất lượng đào tạo và nền nếp của nhà trường.

Thời Lê sơ, đặc biệt dưới triều vua Lê Thánh Tông, giáo dục Nho học và khoa cử có bước phát triển mạnh. Năm 1483, Quốc Tử Giám được mở rộng quy mô. Năm 1484, vua Lê Thánh Tông cho khởi dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu. Đào tạo, thi tuyển và tôn vinh người đỗ đạt được chú trọng cùng với việc xây dựng đội ngũ quan lại và củng cố nhà nước. Quốc Tử Giám tiếp tục giữ vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục Trung ương.

Qua các thời Mạc, Lê Trung Hưng, Quốc Tử Giám được tu sửa, duy trì hoạt động đào tạo trong những điều kiện lịch sử khác nhau. Đầu thế kỷ XIX, khi triều Nguyễn định đô ở Huế và tổ chức cơ sở đào tạo tại kinh đô mới, Quốc Tử Giám Thăng Long không còn giữ chức năng trường học trung ương như trước. Qua thời gian, quần thể Văn Miếu - Quốc Tử Giám nhiều lần thay đổi về kiến trúc, công năng và được tu bổ, bảo tồn. Di tích ngày nay lưu giữ dấu ấn của nhiều thời kỳ, là chứng tích quan trọng của lịch sử giáo dục và văn hóa dân tộc.

3. Đóng góp đối với việc đào tạo nhân tài và phát triển nền văn hiến

Trong nhiều thế kỷ, Quốc Tử Giám giữ vai trò đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức Nho học phục vụ nhà nước. Hoạt động của nhà trường gắn với chế độ khoa cử, góp phần tạo nguồn cho bộ máy quản lý, đồng thời khuyến khích việc học trong xã hội. Sự hiện diện của một trường học ở tầm quốc gia cũng tạo động lực cho việc phát triển học tập ở các địa phương, nơi gia đình, dòng họ và làng xã chăm lo vun đắp truyền thống khoa bảng.

Những người từng giữ trọng trách tại Quốc Tử Giám đã có đóng góp quan trọng cho giáo dục và học thuật. Chu Văn An để lại tấm gương về sự uyên bác, tận tâm với việc dạy học, thanh liêm và chính trực. Ngô Sĩ Liên, người đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất năm 1442, từng giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám và có đóng góp lớn trong việc biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư. Sự nghiệp của những trí thức ấy cho thấy mối liên hệ giữa hoạt động giáo dục với việc xây dựng đội ngũ, lưu giữ lịch sử và gìn giữ tri thức của dân tộc.

Đóng góp của Quốc Tử Giám cần được nhìn nhận trong tổng thể nền giáo dục, khoa cử và đời sống văn hóa Đại Việt. Đó là nơi đào tạo, quy tụ những người có học vấn, góp phần truyền thụ kinh điển, duy trì nền nếp học tập, rèn luyện phẩm hạnh và chuẩn bị người đảm đương công việc của triều đình. Từ hoạt động giáo dục, nhiều giá trị về học vấn, đạo đức và trách nhiệm của người trí thức được bồi đắp, để lại ảnh hưởng đối với đời sống văn hóa, xã hội.

4. Bia Tiến sĩ và sự ghi nhận giá trị di sản

Hệ thống 82 bia Tiến sĩ hiện còn tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám ghi danh những người đỗ đạt trong 82 khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779; các bia được dựng từ năm 1484 đến năm 1780. Mỗi văn bia là một tư liệu xác thực về khoa thi, người đỗ đạt và quan niệm của triều đình đối với giáo dục, nhân tài. Những thông tin về tên tuổi, quê quán, thứ bậc cùng các bài ký trên bia có giá trị đối với việc nghiên cứu lịch sử, tư tưởng, giáo dục, văn học, nghệ thuật và địa danh Việt Nam.

Trên bia Tiến sĩ còn lưu danh những trí thức tiêu biểu như Lương Thế Vinh, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm. Tên tuổi và sự nghiệp của các ông gắn với những đóng góp cho học thuật, văn hóa và đời sống đất nước. Hệ thống bia vì thế giúp hậu thế nhận diện những con người, thành tựu cụ thể của nền khoa bảng, đồng thời hiểu thêm sự đóng góp của đội ngũ trí thức đối với nền văn hiến Việt Nam.

Bài ký đề danh Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba (1442), do Thân Nhân Trung soạn, được khắc trên bia dựng năm 1484, có câu: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Từ sự thịnh suy của nguyên khí đến sự mạnh yếu của thế nước, bài ký đặt việc giáo dục nhân tài, tuyển chọn kẻ sĩ trong mối quan hệ với vận mệnh quốc gia. Việc dựng bia vì thế vừa là sự tôn vinh người đỗ đạt, khuyến khích việc học, vừa nhắc nhở người có học giữ gìn phẩm hạnh, có trách nhiệm với đất nước.

Những giá trị đặc biệt của di sản đã được ghi nhận ở trong nước và quốc tế. Năm 2010, bia Tiến sĩ được ghi danh vào Danh mục Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương; năm 2011 được ghi danh vào Danh mục Ký ức thế giới của UNESCO ở cấp quốc tế. Ngày 10/5/2012, Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 548/QĐ-TTg. Ngày 14/01/2015, 82 bia Tiến sĩ được công nhận là bảo vật quốc gia theo Quyết định số 53/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Năm 2019, danh nhân Chu Văn An được Tổ chức UNESCO tôn vinh là nhà giáo dục tiêu biểu của Việt Nam và thông qua nghị quyết cùng kỷ niệm 650 năm ngày mất của Ông vào năm 2020.

Những ghi nhận ấy góp phần khẳng định tầm vóc của Văn Miếu - Quốc Tử Giám trong di sản văn hóa dân tộc và giá trị của bia Tiến sĩ đối với ký ức nhân loại. Từ một thiết chế giáo dục của Đại Việt, Quốc Tử Giám đã trở thành biểu tượng tiêu biểu của truyền thống hiếu học, trọng người thầy, trọng hiền tài, là địa chỉ văn hóa có ý nghĩa đối với cả nước và bạn bè quốc tế.

II. QUỐC TỬ GIÁM VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU CỦA QUỐC HỌC VIỆT NAM

1. Coi trọng giáo dục và hiền tài trong sự nghiệp xây dựng đất nước

Lịch sử Quốc Tử Giám cho thấy cha ông đã sớm quan tâm xây dựng những giá trị, phẩm chất căn cốt của con người cho việc trị nước. Việc lập trường, tổ chức thi tuyển, bố trí những nhà giáo có học vấn, đức độ và dựng bia tôn vinh người đỗ đạt thể hiện sự chăm lo đối với giáo dục bằng những việc làm cụ thể của nhà nước. Ở đó, đào tạo người học, tuyển chọn người tài và sử dụng vào công việc quốc gia có quan hệ mật thiết với nhau.

Tư tưởng “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” khái quát sâu sắc mối quan hệ giữa nhân tài và sự hưng thịnh của đất nước. Giá trị cốt lõi của tư tưởng ấy là đặt việc chăm lo con người trong tầm nhìn lâu dài của quốc gia. Người tài phải được phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng; người được trọng dụng phải có phẩm chất, đem năng lực đóng góp cho công việc chung. Đây là bài học có ý nghĩa đối với mọi thời kỳ phát triển.

Trong điều kiện hiện nay, bài học lịch sử ấy càng làm rõ yêu cầu coi trọng phẩm chất con người, chất lượng giáo dục và năng lực sáng tạo. Một đất nước có nguồn lực trí tuệ dồi dào phải đồng thời có khả năng tổ chức, sử dụng và phát huy nguồn lực đó. Tôn vinh nhân tài cần gắn với trọng dụng; đầu tư cho giáo dục phải hướng đến những con người có năng lực, bản lĩnh thực sự và có trách nhiệm đối với Tổ quốc, Nhân dân.

2. Hiếu học và ý chí vươn lên bằng tri thức

Truyền thống hiếu học của dân tộc được bồi đắp từ gia đình, dòng họ, làng xã đến quốc gia. Việc học giúp con người mở mang hiểu biết, rèn luyện bản thân và có cơ hội đóng góp cho xã hội. Trong nền giáo dục khoa cử, sự đỗ đạt của người học còn là niềm tự hào, động lực khuyến học của gia đình, quê hương. Quốc Tử Giám và việc lưu danh trên bia Tiến sĩ góp phần tôn vinh học vấn, khuyến khích sự chuyên cần và ý chí vượt khó.

Tên tuổi, quê quán của những người đỗ đạt trên bia Tiến sĩ cho thấy sự đóng góp của nhiều địa phương vào đội ngũ khoa bảng của đất nước. Phía sau mỗi người thành đạt là công sức dạy dỗ, sự chăm lo của gia đình, người thầy và cộng đồng. Vì vậy, truyền thống hiếu học được hình thành, nuôi dưỡng từ nhiều môi trường, trong đó Quốc Tử Giám là một trong những giá trị tiêu biểu.

Giá trị bền vững của hiếu học nằm ở ý chí không ngừng nâng cao hiểu biết và hoàn thiện bản thân. Kế thừa truyền thống ấy hôm nay là đề cao thực học, năng lực tự học và tinh thần học tập suốt đời; coi trọng hiệu quả vận dụng tri thức vào công việc, sản xuất và đời sống. Khi việc học trở thành nhu cầu tự giác của mỗi người, truyền thống hiếu học sẽ tạo thành động lực nâng cao dân trí, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực sáng tạo của xã hội.

3. Tôn sư trọng đạo và sự thống nhất giữa học vấn với nhân cách

Trong truyền thống giáo dục Việt Nam, người thầy có vai trò truyền dạy kiến thức, đạo lý, bồi dưỡng nhân cách và nêu gương cho người học. Tôn sư trọng đạo vì thế gắn với sự trân trọng tri thức, đạo đức và công lao giáo dục. Chu Văn An là một hình tượng tiêu biểu của truyền thống ấy: học vấn uyên bác, tận tâm dạy học, thanh liêm, chính trực, giữ vững khí tiết của người trí thức.

Từ tấm gương người thầy đến những lời răn trên bia Tiến sĩ, có thể nhận rõ sự coi trọng mối quan hệ giữa tài và đức trong giáo dục truyền thống. Học vấn và sự đỗ đạt đặt người học trước trách nhiệm giữ gìn nhân cách, danh dự, làm tròn công việc được giao. Danh vị chỉ có ý nghĩa khi đi cùng phẩm hạnh và sự đóng góp; tri thức phải được thể hiện trong cách sống, cách làm việc và trách nhiệm với cộng đồng.

Trong nền giáo dục hiện đại, những giá trị đó được tiếp nối bằng yêu cầu phát triển toàn diện con người, gắn kiến thức với năng lực, đạo đức và trách nhiệm công dân. Vai trò nêu gương của nhà giáo, sự trung thực trong học tập, nghiên cứu và văn hóa ứng xử trong nhà trường là những biểu hiện cụ thể của đạo học trong đời sống hôm nay.

4. Tinh thần tự chủ trong tiếp thu và phát triển tri thức

Quốc Tử Giám ra đời và phát triển trong quá trình các triều đại Đại Việt tiếp thu Nho học để xây dựng hệ thống giáo dục, tổ chức thi cử và quản lý đất nước. Việc tiếp thu một hệ tư tưởng, học thuật từ bên ngoài được đặt trong nhu cầu của quốc gia độc lập. Qua quá trình đó, các thế hệ trí thức người Việt góp phần xây dựng nền học thuật, các trước tác và đời sống văn hóa riêng của dân tộc.

Tư liệu được lưu giữ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, các bài ký trên bia Tiến sĩ và sự nghiệp của những nhà giáo, nhà khoa bảng phản ánh quá trình tiếp nhận, vận dụng tri thức trong điều kiện Việt Nam. Giá trị của nền quốc học gắn với năng lực học hỏi, tích lũy tri thức, giữ gìn bản sắc và ý thức trách nhiệm đối với đất nước. Đây là cơ sở văn hóa để bồi đắp tinh thần tự chủ, tự cường trong quá trình hội nhập.

Ngày nay, tiếp thu tri thức nhân loại phải đi đôi với phát triển năng lực nghiên cứu, sáng tạo của người Việt Nam. Mở rộng giao lưu, học hỏi kinh nghiệm quốc tế cần gắn với hiểu biết lịch sử, văn hóa dân tộc và khả năng giải quyết những vấn đề thực tế của đất nước. Phát huy giá trị nền quốc học trong điều kiện mới chính là làm giàu tri thức, nâng cao năng lực tự chủ và đóng góp của Việt Nam vào sự phát triển chung của nhân loại.

BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG - THÀNH ỦY HÀ NỘI

Bài viết gần đây

Cùng phụ nữ Thủ đô vững bước khởi nghiệp

Chủ Nhật, 13:19 08/11/2026

Đồng hành cùng hội viên, các cấp Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Hà Nội đã triển khai nhiều giải pháp tiếp sức cho chị em lập nghiệp.

Biến rác thành tài nguyên: Phụ nữ phường Phú Lương lan tỏa lối sống xanh

Thứ Sáu, 15:10 06/11/2026

Từ những phế phụ phẩm tưởng như bỏ đi trong sinh hoạt hằng ngày, phụ nữ phường Phú Lương đang từng bước biến gian bếp gia đình thành "trạm tái chế xanh". Sau hơn một tháng triển khai, mô hình phân loại và ủ rác hữu cơ thành phân bón sinh học đã và đang lan tỏa mạnh mẽ, mở ra hướng đi bền vững trong bảo vệ môi trường từ chính cộng đồng cư dân tại địa phương.

Chi hội Phụ nữ Công an xã Thư Lâm xây dựng tuyến đường hoa tự quản

Thứ Sáu, 08:40 06/11/2026

Hưởng ứng chiến dịch “100 ngày hành động Vì Thư Lâm phát triển - Vì hạnh phúc của Nhân dân”, Chi hội Phụ nữ Công an xã Thư Lâm tổ chức chăm sóc, chỉnh trang tuyến đường hoa trước cổng đơn vị, góp phần xây dựng cảnh quan xanh, sạch, đẹp và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.

Người giữ những mùa hoa không tàn

Thứ Năm, 16:48 05/11/2026

Từng có một công việc được cho là ổn định với gần 8 năm trong biên chế nhà nước, chị Nguyễn Thị Hương Thủy đã quyết định rẽ ngang, chuyển sang làm hoa đất chỉ sau vỏn vẹn 3 ngày làm quen với kỹ thuật. Và rồi, sau gần 20 năm bền bỉ tự học và rèn nghề, chấp nhận cả những bài học đắt giá, có lúc sức khỏe, đặc biệt là đôi mắt suy kiệt, chị Hương Thủy đã trở thành nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực làm hoa đất.

Tăng cường chủ động phòng, chống, ứng phó với các loại hình thiên tai do ảnh hưởng của El Nino

Thứ Tư, 08:26 04/11/2026

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Chỉ thị số 39/CT-TTg ngày 30/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chủ động phòng, chống, ứng phó với các loại hình thiên tai do ảnh hưởng của El Nino năm 2026 - 2027.

Hưởng ứng Cuộc thi trực tuyến tìm hiểu kiến thức, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2026

Thứ Ba, 08:28 27/10/2026

Cuộc thi được triển khai theo hình thức trực tuyến trên ứng dụng Công dân Thủ đô số (iHanoi), góp phần tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; nâng cao nhận thức, kỹ năng phòng ngừa, xử lý tình huống cháy, nổ và thoát nạn cho người dân. Thời gian dự thi từ ngày 26/10 đến ngày 08/11/2026.

Hội LHPN xã Liên Minh duy trì hiệu quả hoạt động “Ngày cuối tuần xanh”

Thứ Sáu, 16:54 30/10/2026

Nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, xây dựng cảnh quan nông thôn sáng – xanh – sạch – đẹp, thời gian qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Liên Minh đã tích cực tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên phụ nữ duy trì hoạt động “Ngày cuối tuần xanh” với nhiều việc làm thiết thực, góp phần xây dựng quê hương ngày càng văn minh, giàu đẹp.

Hội LHPN Hà Nội: San sẻ khó khăn, lan tỏa yêu thương tới phụ nữ khó khăn

Thứ Sáu, 16:40 30/10/2026

Ngày 30/10, Hội LHPN Hà Nội phối hợp với Hiệp hội Nữ Doanh nhân thành phố Hà Nội đã tới thăm, trao quà cho 10 hội viên phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

Hội LHPN Hà Nội: Nâng cao kiến thức pháp luật về thuế cho hơn 200 nữ chủ doanh nghiệp, hộ kinh doanh

Thứ Sáu, 11:31 30/10/2026

Ngày 30/10, Hội LHPN Hà Nội phối hợp với Sở Tư pháp Hà Nội tổ chức hội nghị tập huấn chính sách, pháp luật về thuế trong quá trình chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), hộ kinh doanh do phụ nữ làm chủ trên địa bàn Thành phố năm 2026.

Tìm lại tên anh giữa lòng đất mẹ

Thứ Sáu, 07:00 30/10/2026

Thực hiện “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, Trung tâm Pháp y Hà Nội được giao phối hợp với Bộ Tư lệnh Thủ đô, Ban Chỉ huy quân sự các xã, phường và các trạm y tế lấy mẫu hài cốt liệt sĩ phục vụ giám định ADN.